Bệnh gout và những nghiên cứu gần đây

Bệnh gout và những nghiên cứu gần đây

Trong thời gian qua, nền kinh tế của thế giới nói chung và Việt nam nói riêng đã có những bước phát triển nhanh chóng. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, cộng với chế độ dinh dưỡng thiếu hợp lý nên bệnh gout cùng các bệnh rối loạn chuyển hóa khác như tiểu đường, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, thừa cân, béo phì,… cũng đang ngày càng phổ biến. Tỷ lệ mắc bệnh gout ở các quốc gia trên thế giới trong khoảng từ 0,1-10%. Ở Việt Nam, theo thống kê của chương trình định hướng cộng đồng về kiểm soát bệnh thấp khớp (COPCORD), tỷ lệ mắc bệnh gout khoảng 0,14%. Bệnh tập trung ở nam giới độ tuổi trung niên, đặc biệt ở những người ăn nhiều đạm và thường xuyên uống bia rượu. Ngoài ra, các yếu tố di truyền cũng được xác định là có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh gout.

Giới thiệu chung về bệnh gout

Gout là một trong những bệnh lý được phát hiện rất sớm, ngay từ thời Hy Lạp cổ (thế kỷ thứ V trước công nguyên). Hypocrate đã mô tả những biểu hiện rất đặc trưng của bệnh lý như sưng, nóng,đỏ và rất đau ở ngón chân cái. Tuy nhiên, suốt gần 2000 năm sau những nhận định của ông,nhân loại không biết thêm đáng kể gì về căn bệnh này, ngoại trừ một mô tả hết sức sống động và chân thực của Sydenham một bác sỹ người Anh, cũng là một bệnh nhân gout. Ngoài vị trí ngón chân cái, Sydenham còn nêu thêm một số vị trí tấn công khác của gout như khớp bàn, ngón chân, khớp cổ chân.

Cho tới tận cuối thế kỷ 18, Schelle, Bargman và Wollaston mới tìm thấy các tinh thể urat trong các u cục quanh khớp, trong các viên sỏi ở hệ tiết niệu của bệnh nhân gout, đồng thời phát hiện sự khác nhau giữa lượng acid uric ở người bình thường và người bị bệnh. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nghiên cứu sâu hơn về sinh học tế bào, cơ chế sinh lý bệnh của tình trạng tăng acid uric máu về bệnh gout. Do đó người ta biết rõ rằng gout là một bệnh lý do rối loạn chuyển hóa gây ra bởi tình trạng lắng đọng các tinh thể urat ở các mô của cơ thể do tăng acid uric trong máu.

           Tinh thể urat có dạng hình kim sắc nhọn                         Tổn thương điển hình do gout gây ra

                             Một số hình ảnh X quang của các khớp tổn thương mạn tính do GOUT

Bệnh gout có hai thể nguyên phát và thứ phát. Bệnh gout nguyên phát là thể bệnh thường gặp nhất (chiếm 99% các trường hợp) nguyên nhân là do rối loạn chuyển hóa acid uric. Bệnh gout thứ phát thường gặp sau quá trình phát triển của một số bệnh như bệnh thận (suy thận mạn, thận đa nang, nhiễm độc chì), các bệnh do tiêu tế bào quá mức (bệnh bạch cầu thể tủy mạn tính, thiếu máu huyết tán, bệnh vẩy nến diện rộng,…) hoặc do sử dụng một số loại thuốc như thuốc lợi tiểu, corticoid,…

Bệnh chủ yếu gặp ở nam giới trưởng thành, tuổi bắt đầu mắc bệnh từ 35 đến trên 40 và ngày càng có xu hướng trẻ hóa. Một số nghiên cứu đã ghi nhận được có những bệnh nhân gout ở lứa tuổi 20-30 tuổi. Bệnh biểu hiện bằng những đợt viêm khớp cấp và sau đó tiến triển thành mạn tính,gây tổn thương mô mềm và thận. Bệnh tiến triển qua 4 giai đoạn: giai đoạn tăng acid uric máu không triệu chứng, các cơn gout cấp, giai đoạn gian phát và giai đoạn viêm khớp mạn tính.

Gout mạn tính thường tiến triển chậm và kéo dài tăng dần, lúc đầu tổn thương ở ngón bàn chân rồi cổ chân, gối, khuỷu và ngón bàn tay. Thời gian tiến triển từ 10-20 năm, trong khi diễn biến mạn tính có thể ghép vào những đợt viêm cấp tính làm bệnh nặng thêm. Ở giai đoạn cuối cùng,bệnh nhân mất khả năng vận động và tử vong vì các biến chứng thận, nhiễm khuẩn suy mòn. Nhưng nếu được phát hiện sớm, điều trị và kiểm soát tốt, bệnh nhân sẽ tránh được những ảnh hưởng bệnh lý thứ phát.

Tuy nhiên, có 3 khó khăn chính khi điều trị bệnh gout. Đầu tiên là tác dụng phụ của một số thuốc điều trị gout như colchicin có thể gây tiêu chảy, allopurinol gây dị ứng, các thuốc tăng thải aciduric có thể gây sỏi thận. Thứ hai là cơ địa dị ứng thuốc của bệnh nhân. Có bệnh nhân gout bị dị ứng với nhiều thuốc điều trị như colchicin và allopurinol. Thứ ba là do sự thiếu tuân thủ điều trị của người bệnh. Bệnh nhân gout thường chỉ quan tâm đến bệnh và dùng thuốc trong đợt cấp dẫn đến bệnh vẫn tiến triển nặng dần.

Một số bệnh nhân lạm dụng thuốc giảm đau dẫn đến những tác dụng phụ đáng tiếc như xuấthuyết tiêu hóa, tăng huyết áp, tai biến mạch máu não. Nhiều bệnh nhân có chế độ ăn uống vàsinh hoạt không điều độ nên bệnh vẫn có nguy cơ tái phát. Vì vậy, việc nâng cao nhận thức chocộng đồng để thực hiện tốt phòng, tránh và theo dõi điều trị bệnh là một việc làm hết sức cầnthiết.

Nguyên nhân gây bệnh gout:

Tất cả các tế bào sống đều có chứa DNA, được cấu tạo từ một nhóm nguyên liệu trong đó có một chất hoá học gọi là purin. Các loại thực phẩm có hàm lượng purin rất khác nhau. Một số loại thịt động vật, hải sản, đậu khô… chứa một hàm lượng purin cao. Khi cơ thể sử dụng nhiều thức ăn giàu purin, lượng purin dư thừa trong quá trình chuyển hoá được biến đổi thành acid uric và thận là cơ quan chủ yếu đào thải acid uric.

Ở người bình thường, lượng acid uric trong máu được duy trì ở mức cố định: 5mg% ở nam và 4mg% ở nữ, tùy độ tuổi và có sự thay đổi. Vì một lý do nào đó, hàm lượng purin trong cơ thể tăng, quá trình chuyển hóa chúng thành acid uric tăng. Khi cơ thể tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít thì nồng độ acid uric trong máu tăng lên, sự chuyển hóa acid uric thành muối urat tăng theo dẫn tới sự lắng đọng những tinh thể muối urat sắc nhọn hình kim tại các khớp, sụn, xương, tổ chức dưới da, gây ra viêm sưng khớp và biểu hiện triệu chứng viêm tại những vị trí lắng đọng.

Như vậy, có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gout là acid uric, một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purin.

Nguyên nhân gây tăng lượng acid uric:

Tăng bẩm sinh: bệnh Lesch – Nyhan: do thiếu men HGPT nên lượng acid uric tăng cao ngay từ nhỏ, bệnh có các biểu hiện về toàn thân, thần kinh, thận và khớp. Bệnh này rất hiếm và rất nặng.

Bệnh gout nguyên phát: là bệnh gắn liền với các yếu tố di truyền về cơ địa, những bệnh nhân này có quá trình tổng hợp purin nội sinh tăng nhiều gây tăng acid uric. Đây cũng là nguyên nhân chủ yếu của bệnh.

Bệnh gout thứ phát: acid uric trong máu có thể tăng thứ phát do những nguyên nhân sau:

– Do tiêu thụ những loại thức ăn có chứa nhiều purin (gan, lòng, thịt, cá, nấm, tôm, cua), uống nhiều rượu, bia, nước ngọt. Thực ra đây chỉ là những tác nhân phát động bệnh hơn là nguyên nhân trực tiếp.

– Do trong cơ thể tăng cường thoái giáng purin nội sinh (phá hủy nhiều tế bào, tổ chức) liên quan đến các bệnh lý huyết học như bệnh đa hồng cầu, leucemie kinh thể tủy, hodgkin, sarcome hạch, đau tủy xương, hoặc do sử dụng những thuốc diệt tế bào để điều trị các bệnh ác tính.

Vai trò của enzyme Xanthine Oxidase trong cơ chế hình thành gout:

Nguyên nhân tăng axit uric máu có thể do tăng sản xuất hoặc giảm thải trừ axit uric, thậm chí có trường hợp do đồng thời cả 2 trường hợp. Trong quá trình tổng hợp axit uric, Xanthine Oxidase là một enzyme quan trọng, đóng vai trò như một chất xúc tác phản ứng oxy hóa hypoxanthin thành xanthin và phản ứng oxy hóa xanthin thành axit uric. Đây là phản ứng trong giai đoạn cuối của quá trình chuyển hóa base purin trong cơ thể.

Trong quá trình điều trị bệnh gout, bệnh nhân được chỉ định dùng 2 loại thuốc điều trị là thuốc chống viêm để giảm cơn đau gút cấp và thuốc giảm axit uric để ngừa tái phát và hình thành biến chứng.

Hiện nay có 2 nhóm thuốc giảm axit uric là thuốc tăng đào thải axit uric và thuốc chống tổng hợp axit uric. Trong đó, thuốc tăng đào thải axit uric không mang lại nhiều hiệu quả mà còn có nguy cơ cao gây sỏi thận tiết niệu cho người bệnh; còn nhóm thuốc giảm axit uric hoạt động theo cơ chế ức chế enzyme Xanthine Oxidase được đánh giá hiệu quả và ít tác dụng phụ hơn.

Do đó, sử dụng các chất có khả năng ức chế enzyme Xanthine Oxidase làm giảm tổng hợp axit uric từ các base purin là phương pháp điều trị gout từ gốc, giúp ngăn chặn tối ưu nguy cơ gút tái phát và ngừa xuất hiện biến chứng.

Cơ chế hạ acid uric của enzyme Xanthine Oxidase

  • Tình hình nghiên cứu trong nước

Dân gian là kho tàng vô tận các bài thuốc cổ xưa, được lưu truyền lâu đời. Tuy không có ghi chép trong các tài liệu nghiên cứu, nhưng qua trải nghiệm thực tế, nhưng hiệu quả chữa bệnh gout bằng thuốc nam theo dân gian đã được kiểm chứng qua các bài thuốc:

– Dùng 100g lá trầu tươi, xắt nhuyễn ngâm vào trong một trái dừa xiêm đúng 30 phút, rồi chắt ra ly uống trongvòng một tuần thì các cơn đau nhức do bệnh gút về đêm sẽ giảm hẳn. Cần phải uống 1 tháng liền để trị bệnh triệt để hẳn.Lá trầu có chứa 2,4% tinh dầu bao gồm các nhóm hoạt chất như: Eugenol, Chavicol, Chavibetol, Estragol… Tổ hợp các chất của nó có tác dụng như chất chống viêm khớp, phục hồi các hư tổn ở khớp, kháng khuẩn và kháng nấm tốt, ngoài ra nó còn có tác dụng giảm đau thần kinh. Còn nước dừa dùng trong phối hợp trị liệu cùng với lá trầu có vai trò như một chất hòa tan, giúp chiết xuất hoạt chất trong lá trầu ra một cách nhanh chóng. Nước dừa còn có nhiều kali rất tốt cho tim mạch và các thành phần khác tương tự như huyết tương máu người. Nước dừa còn có tác dụng kháng vi rút, kháng viêm, chống oxy hóa và khử độc rất tốt, tăng đào thải axít uric.

– Đậu xanh để nguyên vỏ, ninh nhừ, ăn một bát thay ăn sáng. Tối trước khi đi ngủ ăn một bát. Dùng liên tục trong 30 ngày, có thể nấu khô hoặc nhão. Đây là bài thuốc dân gian của người dân tộc Sán Dìu đã được nhiều người áp dụng và phản hồi về hiệu quả cao của nó. Sở dĩ đậu xanh có thể chữa được bệnh gout do trong đậu xanh có nhiều chất xơ giúp làm chậm quá trình hấp thu đạm, làm giảm quá trình thoái hóa biến đạm để sinh năng lượng nên giảm sự hình thành acid uric trong cơ thể gây ra bệnh gout. Đậu xanh còn có lợi ích trong việc kháng viêm, cung cấp đậu xanh trong bữa ăn hàng ngày vừa giúp bổ sung chất dinh dưỡng cho cơ thể, có tác dụng giúp giảm viêm do gout gây ra một cách hiệu quả.

– Lá bắp cải hơ nóng hoặc làm mát trong tủ đá khi được quấn quanh các khớp bị đau, sưng sẽ giúp giảm đau do gout hiệu quả. Bắp cải chứa nhiều chất xơ, folate, đồng, vitamin B1, kali, mangan, vitamin B, C và K. Nó cũng cung cấp canxi, sắt, cholin, magiê, pantothenic acid, niacin và phốt pho rất tốt cho sức khỏe.

– Cành dâu 1kg, đường phèn 500g. Trước hết, đem cành dâu sắc lấy nước, thêm đường phèn vào làm thành cao, mỗi buổi sáng uống nửa thìa, hòa vào nước sôi, uống ấm.

– Lá vừng tươi 60g. Lá vừng rửa sạch, băm nhỏ, sắc nước uống, mỗi ngày 2 – 3 lần.Về mùa đông không có lá vừng có thể thay bằng thân cây vừng. Đơn thuốc này có thể đề phòng viêm khớp tái phát.

– Cỏ hy thiêm 12g. Sắc nước uống, mỗi ngày 2-3 lần.

– Kê huyết đằng 10-15g. Sắc nước uống, mỗi ngày 2 – 3 lần.

– Đậu tương 50g, lá ngô 30g, đào nhân 15g.Sắc nước uống, mỗi ngày 2 – 3 lần.Đây là một nghiệm phương bí truyền trong dân gian, hiệu quả điều trị rất tốt.

– Lá vừng 30g, mộc qua 15g, bạch quả (còn gọi ngân hạnh) 12g. Sắc nước uống, mỗi ngày 1 – 2 lần.

– Vỏ mướp 30g, ý dĩ nhân 30g, gừng khô 3g. Sắc nước uống, mỗi ngày 2 – 3 lần.

– Lá lốt phơi khô 5 – 10g, nếu dùng lá tươi thì 15 – 30g sắc với 2 chén nước đặc tới khi còn 1/2 chén để uống sau khi ăn tối. Dùng liên tục 10 ngày.

– Lá lốt, lá vòi voi, rễ bưởi bung, cỏ xước tươi cắt nhỏ mỗi vị 30g, sao vàng và cho vào ấm sắc với 3 chén nước tới khi còn lại 1 chén thì chia làm 3 lần uống 1 ngày. Dùng liên tục trong 1 tuần.

* Dưới đây là tổng hợp một số cây thuốc dân có khả năng điều trị gout:

– Hạt cần tây: chống viêm, giảm đau, ức chế tổng hợp acid uric ở gan và tăng bài tiết acid uric.

– Tơm trơng: nâng cao thể trạng và khả năng làm việc của thận giúp tăng khả năng đào thải acid uric. Phytosterol có trong Tơm trơng sẽ giúp khả năng đào thải acid uric của thận được phục hồi, duy trì ổn định và cơ thể người bệnh trở lại cân bằng, nồng độ acid uric trở lại và duy trì ở ngưỡng cho phép. Nếu kiên trì điều trị, có thể phòng được bệnh gout quay trở lại, điều mà hiện nay các phương pháp khác của y học hiện đại chưa làm được.

– Lá Sa kê: nước sắc lá sa kê có tác dụng lợi tiểu, tăng đào thải acid uric.

– Nhũ hương: chống viêm mạnh. Thành phần hoạt chất chính là boswellic acids (acetyl-11-keto-β-boswellic acid), chất có tác dụng chống viêm mạnh giúp ngăn cản bạch cầu xâm nhập và gây phá hủy các mô. Chúng cũng bổ sung lượng máu đến các phần cơ bị viêm giúp sửa chữa các vùng bị hư hại do bệnh gout gây ra, kích thích sự phát triển của các mô sụn.

– Hy thiêm: hạ acid uric huyết, chống viêm, giảm đau.

– Hạt mã tiền: chống viêm, giảm đau.

– Cây sói rừng: giải độc, tiêu viêm, giảm đau.

– Tía tô: giảm đau trong viêm xương khớp.

Theo y học hiện đại, đến nay có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến bệnh gout ở nước ta

Nguyễn Thị Thanh Mai và cộng sự trong quá trình nghiên cứu tìm kiếm những cây thuốc Việt Nam có khả năng ức chế XO, đã phát hiện cao methanol từ gỗ cây Tô mộc có họat tính ức chế XO với giá trị IC50 là14,2 μg/mL. Từ cao methanol, chúng tôi đã cô lập được 3 hợp chất mới có khung dibenzoxocin, được đặt tên là neoprotosappanin (1), neosappanone A (2), và protosappanin A dimethyl acetal (3), cùng với 14 hợp chất phenol đã biếtneosappanone A (4), protosappanin B (5),  protosappanin C dimethyl acetal (6), protosappanin A (7), brazilin (8),  3-O-methylbrazilin (9), 3-deoxysappanol (10),  3-deoxy-4-O-methylsappanol(11), 4-O-methylsappanol (12), sappanol (13), 4-Omethylepisappanol (14), sappanone B (15), 3-deoxysappanone B (16) và sappanchalcone (17). Tất cả các hợp chất cô lập được thử họat tính ức chế enzym XO, trong đó hợp chất sappanchalcone có họat tính mạnh nhất với IC50 là 3.9 μM, tương đương với chất đối chứng allopurinol (IC50, 2.5 μM) (Nguyen Thi Thanh Mai và cs 2005)

Trong số 288 mẫu cặn chiết thu được từ 96 cây thuốc ở Khánh Hòa và Lâm Đồng được sử dụng trong y học cổ truyền Việt Nam để điều trị bệnh gout và các triệu chứng liên quan, 188 mẫu có hoạt tính ức chế enzyme xanthine oxyase (XO) ở nồng độ 100 µg/ml, 46 mẫu có khả năng ức chế hơn 50%. Ở nồng độ 50 µg/ml, 168 có hoạt tính, với 21 mẫu ức chế hơn 50%. Ở nồng độ 25 µg/ml, 146 mẫu thể hiện hoạt tính ức chế, với 8 mẫu cho thấy sự ức chế trên 50%, trong khi 126 mẫu có hoạt tính ở nồng độ 10 µg/ml, với 2 mẫu ức chế lớn hơn 50%. Các cặn chiết MeOH của Artemisia Vulgaris, Caesalpinia sappan, Blumea balsamifera, Chrysanthemum sinense và cặn chiết MeOH/H2O của Tetracera scandenscó hoạt tính ức chế enzyme xanthine oxyase mạnh với giá trị IC50 dưới 20 µg/ml. Đặc biệt, cặn chiết MeOH của hoa C. sinense với giá trị IC50 là 5,1 µg/ml. Từ cặn chiết có hoạt tính mạnh này  có dẫn đến sự phân lập được 4 hợp chất: acid caffeic (18), luteolin (19), eriodictyol (20) và acid 1,5-di-O-caffeoylquinic (21). Tất cả các hợp chất này cho thấy hoạt tính ức chế XO đáng kể phụ thuộc từng nồng độ và hoạt tính của luteolin mạnh hơn (IC50 1,3µM) so với thuốc được sử dụng lâm sàng, allopurinol (IC50 2,5 µM). Điều này có thể dự đoán rằng các hợp chất ức chế XO tự nhiên có thể là các hợp chất polyphenol (Nguyen Thi Thanh Mai và cs 2004).

Nghiên cứu đánh giá hoạt động ức chế XO in vitro từ cặn chiết ethanol lá sa kê (Artocarpus altilis(Park.) Fosb) trong điều trị bệnh gout. Kết quả cho thấy, hiệu suất phản ứng hình thành acid uric đạt tối ưu (93,36 ± 0,09%) ở nồng độ xanthine và xanthine oxidase lần lượt là 0,5 µM và 0,0125 U. Ngoài ra, hiệu quả ức chế hoạt tính enzyme xanthine oxidase bị ức chế gần như hoàn toàn (97,96 ± 0,49%) ở nồng độ cặn chiết ethanol lá sa kê 0,5 mg/mL và nồng độ cao chiết ức chế 50%, IC50 = 0,198 mg/mL (Đái Thị Thu Trang, và cs 2014).

Cặn chiết cồn và cặn chiết nước từ lá Đại bi (Blumea balsamifera) có hoạt tính ức chế XO với IC50 lần lượt là 170,7µg/ml và 170,5µg/ml. Ở mô hình gây tăng acid uric cấp, cao cồn (liều 1,27g/kg và 2,55g/kg) và cao nước (liều 2,5g/kg và 1,25g/kg) uống một liều duy nhất hay uống dự phòng 5 ngày đều có tác dụng làm giảm hàm lượng acid uric trong huyết tương. Ở mô hình gây tăng acid uric mạn, các cao chiết cồn và nước làm giảm hàm lượng acid uric trong huyết tương ở ngày 7 và 14 hiệu quả hơn so với kết quả trên mô hình gây tăng acid uric cấp (Lê Thị Minh Dung và Nguyễn Thị Thu Hương và cs 2012).

Cây Nở ngày đất (GomphrenacelosiodesMart.) được chiết bằngphương pháp siêu âm sử dụng dung môi ethanol 80% và các phân đoạn dịch chiết thu được bằng cách sử dụng các dung môi n-hexane, ethyl acetate (EtOAc)và n-butanol (n-BuOH). Dịch chiết toàn phần và các phân đoạn được đánh giá tác dụng ức chế enzym XO trên in vitro. Kết quả cho thấy phân đoạn dịch chiết n-BuOH có tác dụng ức chế XO cao nhất (IC50 =27,39µg/mL), sau đó là phân đoạn dịch chiết EtOAc (IC50 = 33,36µg/mL) và dịch chiết ethanol toàn phần (IC50: 47,37 ± 0,26 µg/mL) thấp nhất là phân đoạnn-hexan (IC50 =81,59µg/mL). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng phân đoạn n-BuOH và phânđoạn EtOAc từ cây Nở ngày đất có tiềm năng trong phòng và điều trị bệnh gout (Đặng Kim Thu và cs 2017).

Huỳnh Thư và cộng sự của mình đã khảo sát tác dụng ức chế xanthine oxidase của một số cặn chiết từ các loài nấm dược liệu là nấm hương (Lentinula sp.), nấm tràm (Tylopilus sp.), một số loài thuộc chiCordyceps Ophiocordyceps sinensis, Cordyceps pseudomilitaris Cordyceps neovolkiana. Kết quả cho thấy các cao chiết phân đoạn petroleum ether (PE), ethanol (EtOH) và ethyl acetat(EtOAc) từ O. sinensis, phân đoạn PE từ(Lentinula sp.) có tác dụng ức chế xanthine oxidase.Trong đó cao chiết PE từ O. sinensis thể hiện tác dụng cao nhất tại nồng độ 250 µg/ml với khả năng ức chế là 26,21% (Huỳnh Thư và cs 2017).

Sàng lọc tác dụng ức chế xanthin oxidase in vitro của 12 mẫu dược liệu được sử dụng theo kinh nghiệm dân gian để điều trị gout hoặc các tác dụng liên quan như tác dụng chống oxy hóa, kháng viêmvà giảm đau. Các cặn chiết tổng này được đánh giá khả năng ức chế xanthin oxidase in vitro tại 3 nồng độ là 100, 50 và 10μg/ml dựa trên phương pháp đánh giá nồng độ acid uric tạo thành thông qua phương pháp đo quang của Tadataka Noro. Kết quả, ở nồng độ 100μg/ml có 11 mẫu thể hiện hoạt tính ức chế xanthin oxidase, ở nồng độ 50μg/ml có 8 mẫu có hoạt tính ức chế xanthin oxidase và ở nồng độ 10μg/ml chỉ có 2 mẫu có hoạt tính ức chế xanthin oxidase. Hai mẫu có tác dụng ức chế xanthin oxidase trên 50% là cây Lá bỏng(Bryophyllum pinnatum (Lam.) Kurz.) và Bình bát Bình bát (Annona glabra L.).với giá trị IC50 lần lượt là 59,42 và 70,92μg/ml (Nguyễn Đình Quỳnh Phú và cs 2018).

Nghiên cứu đã đánh giá được tác dụng ức chế enzym XO của các phân đoạn dịch chiết từ lá cây chè (Camellia sinensis L.) trồng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy dịch chiết ethanol 50% từ lá cây chè ức chế enzym XO in vitro với giá trị IC50 là 116,42 ± 6,19 µg/mL. Trong các phân đoạn dịch chiết từ lá cây chè thì phân đoạn EtOAc thể hiện tác dụng ức chế XO cao với giá trị IC50 là 58,4 ± 4,23 µg/mL. Kết quả này gợi ý cho việc nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của phân đoạn dịch chiết EtOAc để phân tách được hoạt chất tinh khiết có tiềm năng trong phòng, điều trị bệnh gout (Nguyễn Thị Kim Thu và cs 2017).

Nghiên cứu các thảo dược thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae): cây húng chanh (Plectranthus amboinicus (Lour.) Spreng.), cây kinh giới (Elsholtzia ciliata (Thunb.)Hyland.), cây râu mèo (Orthosiphon stamineus Benth.) và cây sương sáo (Mesona chinensis Benth.).Các thảo dược thuộc họ Dền (Amaranthaceae): cây nở ngày đất (Gomphrena celosiodes Mart), cây dền gai (Amaranthus spinosus L.) và cây cúc nút áo (Gomphrena globosa L.). Kết quả, dịch chiết ethanol của cây cúc nút áo, húng chanh và dền gai ức chế enzyme XO yếu. Dịch chiết chiết ethanol của cây sương sáo, râu mèo, kinh giới và nở ngày đất có tác dụng ức chế enzym XO với IC50 lần lượt là 222; 143; 138 và 42,5 µg/mL. Phân đoạn n-hexan của cây nở ngày đất không có tác dụng ức chế enzym XO.Phân đoạn n-hexan của cây nở ngày đất có sự hiện diện của nhóm chất flavonoid và alkaloid, không có sự hiện diện của tannin và saponin.Dịch chiết ethanol, phân đoạn ethyl acetat và phân đoạn 1-butanol đều có sự hiện diện của tannin, flavonoid, alkaloid và saponin. Phân đoạn ethyl acetat và phân đoạn 1-butanol ức chế enzym xanthine oxidase với IC50 lần lượt là 91,6và 126µg/mL. Flavonoid và flavonol có trong 100 g nở ngày đất khô với khối lượng lần lượt là 4,53g và 0,74g (Từ Văn Quyền và cs 2019).

10.2. Ngoài nước(phân tích, đánh giá tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trên thế giới, liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài được trích dẫn khi đánh giá tổng quan)

Trong hàng ngàn năm, các sản phẩm tự nhiên đặc biệt là thực vật thuốc đã đóng một vai trò rất quan trọng trên toàn thế giới trong điều trị và phòng ngừa các bệnh ở người (Chin et al.2006). Sản phẩm tự nhiên được phát hiện từ cây thuốc có cung cấp nhiều loại thuốc hữu ích lâm sàng và có thể dự đoán vẫn là một thành phần thiết yếu trong quá trình tìm kiếm thuốc mới thuốc (Balunas và Kinghorn 2005). Bởi vì các phương pháp điều trị hiện tại cho bệnh gout dẫn đến các tác dụng phụ không mong muốn và có xu hướng đắt tiền, sản phẩm tự nhiên không có nhược điểm như vậy. Vì vậy, nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính của chúng hoạt động của chúng đang được đẩy mạnh và có tiềm năng được phát triển như thuốc chống gout trong tương lai. Hoạt tính chống gout của những dược liệu bao gồm ba cơ chế, giảm sản xuất acid uric, tác dụng uricosuric và các hoạt tính kháng viêm. Nhưng trong đó, quan trọng hơn cả là cơ chế giảm sản xuất acid uric thông qua ức chế enzyme XO.

Để xác định các hợp chất có đặc tính ức chế XO của loài Amyena scandens Danser (Loranthaceae), phổ khối lượng (ESI-MS-MS) kết hợp với UV và các kỹ thuật sắc ký lỏng, kết quả chỉ ra rằng cácoligomeric proanthocyanidin là thành phần chính có tác dụng ức chế XO (Gariboldi et al. 1998).

Một số cây thuốc Ấn Độ dùng để điều trị bệnh gout và các triệu chứng liên quan đã được thử nghiệm cho thấy hoạt tính ức chế XO, trong số đó, dịch chiết cồn nước của Coccinia drandis và Vitex negundo, dịch chiết methanol của Datura metelStrychnos nuxxiaica có tác dụng ức chế tuyệt vời XO (Umamaheswariet al. 2007). Ngoài ra, phân đoạn chloroform của lá Erythrina stricta, lá thể hiện hoạt tính ức chế XO đáng kể, tiếp theo là phân đoạn n-hexan, ethyl acetate. Sự có mặt của các hợp chất phenolicvà flavonoid trong các phân đoạn sẽ góp phần tang giảm hoạt tính ức chế XO (Umamaheswari et al. 2009).

Sàng lọc các chất ức chế XO tiềm năng từ 122 cây thuốc Trung Quốc đã chứng minh rằng nhiều cây thuốc như Glechoma longituba, Lycopus eruopaeusScutellaria barbata thể hiện hoạt tính mạnh mẽ,đặc biệt dịch chiết methanol của cành cây Cinnamomum cassia thể hiện hoạt tính mạnh nhất (Konget al. 2000).

Dịch chiết thu được từ thủy phân lá Cinnamomum osmophloeum chỉ ra hoạt tính ức chế XO mạnh. Tinh dầu có trong cây có thể là tác nhân chính gây ức chế XO, trong đó cinnamaldehyd thể hiện mạnh nhất (Wang et al. 2008). Dịch chiết methanol và các hợp chất polyphenolic chính của Geranium sibirium cho thấy khả năng chống oxy hóa tương đối tốt và tác dụng ức chế XO,hơn nữa, các hợp chất polyphenolic được tách ra từ phân đoạn ethyl acetate: geraniin (22), corilagin (23) và acid gallic (24) cho thấy khả năng ức chế XO (Wu et al. 2010).

Aapigenin-4’-O-(2-Op-coumaroyl)-β-D-gluco-pyranoside(24) phân lập được từ Palhinhaea cernua, cho thấy hoạt tính ức chế XO tốt, kết quả này nhấn mạnh rằng các hợp chất acyl hóa của các hợp chất flavone glycoside trong thực vật đáng được quan tâm (Jiao et al. 2006).

Populus nigraBetula Pendula đã được xác định có hoạt tính ức chế XO đáng kể trong số 27 loài thực vật từ Cộng hòa Séc (Havlik et al. 2010).Dịch chiết methanol lá Phyllanthus niruri ức chế XO invitro mạnh chiết xuất lá. Tuy nhiên, nghiên cứu in vivo chỉ ra rằng tác dụng hạ huyết áp của dịch chiết methanol lá Phyllanthus niruri có thể chủ yếu là do tác dụng uricosuric và một phần thông qua ức chế XO (Murugaiyah và Chan 2009).

Các nghiên cứu trước đây cho thấy các hợp chất flavanoid, polyphenol và tannin phân lập được từ loài Phyllanthus niruri có thể là thành phần chính hoạt tính ức chế XO.

Dịch chiết của Pistacia integerrima cho thấy hoạt tính ức chế XO in vitroin vivo, các nghiên cứu sâu hơn đã chỉ ra rằng sự hiện diện của flavonoid bao gồm quercetin-3-O-β-D-glucopyranoside (25), rutin (26), kaempferol-3-O-β-D-glucopyranoside (27), quercetin-3-O-(6-O-syringyl)-β-D–glucopyranoside (28) và kaempferol-3-O-(4-O-galloyl)-β-L-arabinopyranoside (29), thu được từ Pistacia integerrima chịu trách nhiệm cho sự ức chế XO (Ahmad et al. 2008). Một số flavonol glycoside như kaempferol và quercetin glycosides được phân lập từ hai cây họ đậu, Vicia fabaLotus edulisđã được chứng minh là chất ức chế XO mạnh (Spanou et al.2012).

Axit lithospermic được phân lập từ từ rễ của Salvia miltiorrhiza, cho thấy cả tác dụng ức chế XO và chống oxy hóa (Liu et al. 2008). Trong số 14 flavonoid phân lập được từ loài Morinda morindoides, luteolin và apigenin là các chất ức chế XO mạnh nhất, trong khi chrysoeriol7-neohesperidoside (30) và aglycones chrysoeriol (31) không thể hiện hoạt tính (Cimanga et al. 1999). Okanin và melanoxetin phân lập từ phân đoạn ethyl acetate của Acacia confusa Merr.(Leguminosae) có tác dụng ức chế XO và điều đáng chú ý là cả hai hợp chất thể hiện hoạt tính tốt hơn cả (Tung và Chang 2010).

Nghiên cứu của I. R. Alsultanee và cộng sự đánh giá về khả năng ức chế XO in vitro của dịch chiết nước của loài Mướp đắng (Momdica charantia) và Gừng (Zingiber officinat) ở nồng độ 100 µg/mL, kết quả chỉ ra rằng loài Zingiber docinat ức chế XO đến 81,56%, loàiMomdica charantiaức chế đến 96,5%.Tổng phenolic của Momdica charantia (80,83%) nhiều hơn Zingiber officinat(62,18%). Các hợp chất coumarin có trong Momdica charantia có hoạt tính ức chế của xanthine oxyase đến 97%. Nghiên cứu sâu hơn về lớp chất này trong cây mướp đắng cho thấy điều trị bằng coumarin (0,5 mg/kg) gây giảm đáng kể nồng độ acid uric trong máu ở chuột bình thường. Những phát hiện này cho thấy rằng dịch chiết Momdica charantia có đặc tính dược liệu vượt trội và có thể phát triển thành thuốc để điều trị các bệnh liên quan đến sự hình thành gốc tự do, stress và hoạt tính ức chế enzyme xanthine oxyase (I. R. Alsultanee et all, Journal of Natural Sciences Research,2014, 4 (17),  16-24).

Dịch chiết Biota directionalis và các thành phần flavonoid của nó như quercetin và rutin ức chế đáng kể hoạt tính XO khi dùng qua đường uống để tăng axit uric máu với liều 100 mg/kg trọng lượng cơ thể (Zhu et al. 2004). Cinnamaldehyde từ tinh dầu dầu quế Cinnamomum cassia, dùng qua đường miệng ở chuột ức chế tăng acid uric trong máu ở liều lượng 600 mg/kg, mạnh tương đương với allopurinol. Dùng đường uống cặn chiết methanol của Coccinia grandisVitex negundodẫn đến giảm đáng kể nồng độ urat trong máu, tương tự như allopurinol (Umamaheswari et al.2007).Lodendron chinense thành phần hóa học chính là berberine chiụ trách nhiệm ức chế (Chang et al. 1994).

Dịch chiết Phyllanthus niruri có hoạt tính ức chế in vivo XO vừa phải, hơn nữa, các thành phần hoạt tính như lignan, phyllanthin, hypophyllanthin và phyltetralin giúp tăng bài tiết acid uric qua nước tiểu (Murugaiyah và Chan 2009). Acid lithospermic được phân lập từ rễ Salvia miltiorrhiza đã được có tác dụng in vivo hạ đường huyết và chống viêm của chuột thông qua ức chế XO và chống oxy hóa (Liu et al. 2008).

Nhiều các hoạt chất có nguồn gốc từ thực vật có khả năng chống gout. Trong các nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, flavonoid, alkaloid, tinh dầu, hợp chất phenolic, tannin, iridoid glucoside, và coumarin cho thấy tiềm năng của tác dụng chống gout bằng hành tính ức chế XO, trong khi lignan, triterpenoid và xanthophyll thể hiện hoạt tính thông qua các tác dụng chống viêm. Trong nghiên cứu động vật, tinh dầu, lignan, và tannin cho thấy tác dụng kép bao gồm giảm việc tạo ra acid uric và hoạt tính uricosuric. Các ancaloid ức chế sự hình thành acid uric, hoặc tác dụng chống viêm hoặc kết hợp cả hai. Các hợp chất phenolic và flavonoid ức chế sự hình thành acid uric, hoạt tính uricosuric và chống viêm. Hơn nữa, nhiều loại dược liệu quý ở miền núi phía Bắc nước ta đã được sử dụng rộng rãi trong y học cổ truyền và có chứa các thành phần hóa học quý như Sarcandra glabra (Sói rừng), Orthosiphon stamineus Benth.(Râu mèo), Alocasia macrorrhizos (L.) G. Don. (Ráy), có tác dụng điều trị bệnh gout có thể phát triển tạo sản phẩm chức năng phục vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.

  • Cây Sói rừng (Sarcandra glabra (Thunb.) Nakai) thuộc họ Hoa sói (Chloranthaceae)

Ở nước ta, cây mọc hoang ở vùng núi, đất ở bìa rừng và ven đồi ẩm nhiều nơi như: Lào Cai, Lạng Sơn, Bắc Thái, Hoà Bình, Hà Tây đến Kon Tum, Lâm Ðồng. Nó cũng được trồng để lấy hoa ướp trà. Thu hái toàn cây vào mùa hạ thu, dùng tươi hay phơi khô trong râm. Rễ thu hái quanh năm, rửa sạch, cắt đoạn phơi trong râm, cũng có thể dùng tươi. Tính vị, tác dụng: Vị đắng, cay, tính hơi ấm, cũng có độc; có tác dụng hoạt huyết giảm đau, khư phong trừ thấp, tiêu viêm giải độc. Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Hồng Công (Trung Quốc) cây được dùng chữa: 1. Ung thư tuỵ, dạ dày, trực tràng, gan, cuống họng; 2. Viêm não B truyền nhiễm; 3. Lỵ trực trùng; viêm ruột thừa cấp, bệnh nhọt; 4. Ðòn ngã tổn thương, gãy xương, thấp khớp tạng khớp, đau lưng. Ngày dùng 15-30g, đun sôi uống hay tán bột uống với rượu hoặc dùng bột phối thành tễ uống. Ở Vân Nam (Trung Quốc) cây còn được dùng trị cảm mạo, kinh nguyệt không đều và viêm phổi.Dân gian còn dùng rễ ngâm rượu uống chữa ngực đau tức, lá giã đắp chữa rắn cắn. Lá sắc uống trị ho. Thành phần hoá học: Các kết quả nghiên cứu trước đây cho biết trong cây Sói rừng có chứa triterpen và sesquiterpen-glycosid. Ngoài ra, còn phân lập được một số flavonoid như 2’,6’-dihydroxy-3’,4’-dimetoxychalcon (32), 5-hydroxy-6,7-dimetoxyflavanon (33) và astilbin – (2R,3R)-5,7,3’,4’-tetrahydroxyflavanonol 3-oxy-α-L-rhamnosid (34) (Lê Thị Anh Đào và cs, 2010)

  • Cây râu mèo (Orthosiphon stamineus) thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae)

Là cây thuốc phổ biến ở Nam Châu Á và mọc tốt trên vùng đất ẩm. Lá râu mèo được sử dụng làm trà uống có công dụng trong điều trị bệnh viêm thận, sỏi thận và sỏi mật (Mat-Salleh và Latiff,2002). Flavonoid hiện diện nhiều ở lá râu mèo, là một trong những hợp chất quan trọng trong hoạt động lợi tiểu và kháng khuẩn (Schut và Zwaving, 1993).

Dịch chiết methanol tổng của phần trên mặt đất cây Râu mèo thu hái tại Thanh Trì, Hà Nội thể hiện hoạt tính ức chế enzyme Protein Tyrosine Phosphatase 1B (PTP1B) lên tới trên 65% tại nồng độ 30 µg/mL. Sử dụng phương pháp hoạt tính dẫn đường, bốn hợp chất bao gồm 5-hydroxy-3,7,3′,4′tetramethoxyflavone (35), 3,5,7,3′,4′-pentamethoxyflavone (36), 3,3′-dihydroxy-5,7,4′trimethoxyflavone (37), and 3,5,3′-trihydroxy-7,4′-dimethoxyflavone (38) (Hoàng Đức Thuận và cs, 2018).

  • Cây Ráy (Alocasia macrorrhizos(L.) G.Don) thuộc Họ Ráy (Araceae).

Là cây thảo, chỗ đất ẩm, nhiều mùn. Ở Việt Nam, ráy phân bố tập trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong khi đó ở miền Nam, thường thấy ở độ cao khoảng 800 m trở lên. Thân rễ ráy được dùng trong phạm vi kinh nghiệm nhân dân, chủ yếu chữa bệnh ngoài da như mề đay, đơn ngứa, lở khó chữa, sần da chảy nước (nấu nước tắm rửa), mụn nhọt, ghẻ, đơn sưng bàn tay, bàn chân, trĩ rò, trượt ngã bị thương, rắn cắn (giã đắp), sưng vú (giã với cám, đắp). Ở Java, rễ và lá ráy là thuốc gây sung huyết da trị đau khớp. Theo y học hiện đại, ráy thể hiện hoạt tính kháng khuẩn, kháng nấm, chống oxi hóa, bảo vệ gan, chống độc, …

Thành phần hóa học: cây chứa acid Oxalic, flavonoid, cyanogenetic glycoside, alocasin, cholesterol, axit amin, axit gallic, axit mallic, axit ascobic, axit succinic, glucose, fructose sucrose, betalectin, triglochinin, isotriglochinin, ceramide, ergosterol, campesterol, stigmasterol,-sitosterol và clionasterol. Các spadix chứa axit amin sau: leucine, α-alanine, proline, axit glutamic, glycine, valine, acid aspartic, axit-amino butyric, threonine và serine.Phạm Hoàng Ngọc, Nguyễn Quyết Tiên, và Trần Vân Hiền nghiên cứu về thành phần cây ráy mọc hoang dại ở phía bắc Việt Nam đã phân lập được hai chất: một chất được xác định cấu trúc là stigmas – 5,22 dien-3 ol và chất kia là acetat thuộc loại sterol. (Tạp chí Dược liệu.Số 4 – 2001 tập 6 trang 106).

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Balunas MJ, Kinghorn AD (2005) Drug discovery from medicinal plants. Life Sci 78: 431–441

Chang W, Chang Y, Lu F, Chiang H-C (1994) Inhibitory effects of phenolics on xanthine oxidase. Anticancer Res 14: 501

Chin Y-W, Balunas MJ, Chai HB, Kinghorn AD (2006) Drug discovery from natural sources. AAPS J 8: 239–253.

Cimanga K, Bruyne T, Hu J, Cos P, Apers S, Pieters L, Tona L, Kambu K, Berghe DV, Vlietinck A (1999) Constituents from Morinda morindoides leaves as inhibitors of xanthine oxidase and scavengers of superoxide anions. Pharm Pharmacol Commun 5: 419–424

Đái Thị Xuân Trang, Huỳnh Ngọc Trúc và Nguyễn Trọng Tuân, Khảo sát khả năng ức chế enzyme xanthine oxidase từ lá Sa kê Artocarpus altilis (park.) fosb, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Phần A: Khoa học Tự nhiên, Công nghệ và Môi trường: 32 (2014): 94-101.

Đặng Kim Thu,Vũ Thị Hoa , Chu Ngọc Khánh, Bùi Thanh Tùng, Đánh giá tác dụng ức chế enzyme xathine oxidase in vitro của cây nở ngày đất (Gomphrena celosiodes Mart.), Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Y Dược, 2017, 33 (2), 14-19.

Gariboldi E, Mascetti D, Galli G, Caballion P, Bosisio E (1998) LC-UVelectrospray-MS-MS mass spectrometry analysis of plant constituents inhibiting xanthine oxidase. Pharm Res 15: 936–943.

Havlik J, de la Huebra RG, Hejtmankova K, Fernandez J, Simonova J, Melich M, Rada V (2010) Xanthine oxidase inhibitory properties of Czech medicinal plants. J Ethnopharmacol 132: 461–465.

Hoang Duc Thuan, Nguyen Phi Hung, Vu Quoc Trung, Methoxyflavones from Orthosiphon stamineus and their ptp1b inhibitory activities, Vietnam Journal of Science and Technology, 2018,  56 (4A) 146-152.

Huỳnh Thư, Vũ Anh Tùng, Nguyễn Trọng Hiếu, Đặng Ngọc Hồng Cẩm, Đinh Minh Hiệp, Nghiên cứu hoạt tính ức chế xanthine oxidase của một số cao chiết từ nấm dược liệu, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, 2017, 33 (2S), 192-198.

  1. R. Alsultanee et al, Journal of Natural Sciences Research, 2014, 4 (17), 16-24)

Jiao RH, Hui MG, Shi DH, Tan RX (2006) An apigenin-derived xanthine oxidase inhibitor from Palhinhaea cernua. J Nat Prod 69: 1089–1091.

Kong L, Cai Y, Huang W, Cheng CH, Tan R (2000) Inhibition of xanthine oxidase by some Chinese medicinal plants used to treat gout. J Ethnopharmacol 73: 199–207

Lê Thị Minh Dung, Nguyễn Thị Thu Hương, Nghiên cứu tác dụng hạ acid uric máu của cao chiết từ lá Đại bi (Blumea balsamifera l. (dc), asteraceae) trên thực nghiệm, Y Học TP. Hồ Chí Minh, 2012, 16 (1), 169-174

Liu X, Chen R, Shang Y, Jiao B, Huang C (2008) Lithospermic acid as a novel xanthine oxidase inhibitor has anti-inflammatory and hypouricemic effects in rats. Chem Biol Interact 176: 137–142

Liu X, Chen R, Shang Y, Jiao B, Huang C (2008) Lithospermic acid as a novel xanthine oxidase inhibitor has anti-inflammatory and hypouricemic effects in rats. Chem Biol Interact 176: 137–142.

Mai Thanh Thi Nguyen, Suresh AWALE, Yasuhiro TEZUKA, Quan Le TRAN, and Shigetoshi KADOTA, Xanthine Oxidase Inhibitors from the Heartwood of Vietnamese Caesalpinia sappan,Chem. Pharm. Bull., 2005, 53(8) 984-988.

Murugaiyah V, Chan K (2009) Mechanisms of antihyperuricemic effect of Phyllanthus niruri and its lignan constituents. J Ethnopharmacol 124: 233–239.

Murugaiyah V, Chan K (2009) Mechanisms of antihyperuricemic effect of Phyllanthus niruri and its lignan constituents. J Ethnopharmacol 124: 233–239

Nguyễn Đình Quỳnh Phú, Phạm Thị Hiền Thư, Nguyễn Thị Hoài, Sàng lọc tác dụng ức chế xanthin oxidase in vitro của một số dược liệu ở miền Trung Việt Nam, Tạp chí Y Dược học – Trường Đại học Y Dược Huế, 2018, 8 (5), 91-95.

Nguyễn Quyết Tiến, Phạm Hoàng Ngọc, Phạm Hồng Minh, Lành Thị Ngọc, “New ceramide from Alocasia macrorrhiza (L.) Schott in Viet Nam” , Tạp chí Khoa học và Công nghệ-Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007, tập 45 (3A), tr.180-184.

Nguyễn Quyết Tiến, Phạm Thị Hồng Minh, Nguyễn Thị MinhThắng, Lê Thị Anh Đào, Kết quả ban đầu về thành phần hóa học của Sarcandra glabra (Thunb.)Nakai., Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2010, T48(4A), p.91-97.

Nguyễn Thị Kim Thu, Đặng Kim Thu, Bùi Thanh Tùng, Tác dụng ức chế xanthine oxidase của các phân đoạn dịch chiết từ lá cây chè (Camellia sinensis L.), Tạp chí Dược học, 2017, 493, 46-49.

Nguyễn Thị Thanh Mai, Trần Lê Quan, Nguyễn Trung Nhân, Shigetoshi Kadota, Thành phần hóa học và họat tính ức chế enzym xanthine oxidase của cây tô mộc (Caesalpinia sappan L. ), Tạp chí Dược học, 2017, 495, 55-59.

Spanou C, Veskoukis AS, Kerasioti T, Kontou M, Angelis A, Aligiannis N, Skaltsounis A-L, Kouretas D (2012) Flavonoid glycosides isolated from unique legume plant extracts as novel inhibitors of xanthine oxidase. PLoS ONE 7: e32214

Từ Văn Quyền, Nguyễn Minh Chơn, Nguyễn Trọng Tuân, Đái Thị Xuân Trang, Khảo sát khả năng ức chế enzym xanthin oxidase của một số cây thuộc họ Hoa môi (Lamiaceae) và họ Dền (Amaranthaceae), Tạp chí Dược học, 2019, 514,.60-63.

Tung Y-T, Chang ST (2010) Inhibition of xanthine oxidase by Acacia confusa extracts and their phytochemicals. J Agric Food Chem 58: 781–786.

Umamaheswari M, Asokkumar K, Sivashanmugam A, Remyaraju A, Subhadradevi V, Ravi T (2009) In vitro xanthine oxidase inhibitory activity of the fractions of Erythrina stricta Roxb. J Ethnopharmacol 124: 646–648

Umamaheswari M, AsokKumar K, Somasundaram A, Sivashanmugam T, Subhadradevi V, Ravi TK (2007) Xanthine oxidase inhibitory activity of some Indian medical plants. J Ethnopharmacol 109: 547–551

Umamaheswari M, AsokKumar K, Somasundaram A, Sivashanmugam T, Subhadradevi V, Ravi TK (2007) Xanthine oxidase inhibitory activity of some Indian medical plants. J Ethnopharmacol 109: 547–551

Wang S, Yang C, Liao J, Zhen W, Chu F, Chang S (2008) Essential oil from leaves of Cinnamomum osmophloeum acts as a xanthine oxidase inhibitor and reduces the serum uric acid levels in oxonate-induced mice. Phytomedicine 15: 940–945.

Wu N, Zu Y, Fu Y, Kong Y, Zhao J, Li X, Li J, Wink M, Efferth T (2010) Antioxidant activities and xanthine oxidase inhibitory effects of extracts and main polyphenolic compounds obtained from Geranium sibiricum L. J Agric Food Chem 58: 4737–4743.

Zhu JX, Wang Y, Kong LD, Yang C, Zhang X (2004) Effects of Biota orientalis > extract and its flavonoid constituents, quercetin and rutin on serum uric acid levels in oxonate-induced mice and xanthine dehydrogenase and xanthine oxidase activities in mouse liver. J Ethnopharmacol 93: 133–140.

T.S Lê Ưng

Chuyên gia dược cổ truyền

Viện Trưởng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *